Kết quả cơ cấu lại Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thời gian qua
Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), tiền thân là Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, được thành lập ngày 3-9-1975. Đây là một trong những tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn nhất của Việt Nam hiện nay và là doanh nghiệp nhà nước duy nhất hoạt động trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí. Hiện nay, 5 lĩnh vực kinh doanh chính của PVN là tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí; công nghiệp khí; công nghiệp điện; chế biến dầu khí, tồn trữ và phân phối sản phẩm dầu khí; dịch vụ dầu khí. PVN còn có nhiều ưu thế về nhiệt điện khí khi sở hữu các nhà máy điện có công nghệ hiện đại, hiệu suất cao và đang vận hành ổn định, hiệu quả, cùng với những thế mạnh xây dựng các dự án năng lượng tái tạo ngoài khơi… Qua đó, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và đóng góp thiết thực vào bảo đảm an sinh xã hội.
Cơ cấu lại Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam: Kết quả và những gợi mở

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan mô hình khai thác dầu khi của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam _Ảnh: TTXVN
Những năm qua, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và phát triển ngành dầu khí(1), xuất phát từ chính những nhu cầu nội tại trong quá trình phát triển, PVN đã từng bước triển khai lộ trình cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao chất lượng quản trị, điều hành doanh nghiệp theo mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, tiếp cận với các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị doanh nghiệp hiện đại. Qua đó, cơ cấu tổ chức của Công ty mẹ - PVN từng bước được kiện toàn theo hướng tinh gọn. Giai đoạn 2016 - 2020, số lượng thành viên Ban Tổng Giám đốc giảm từ 10 xuống còn 5 thành viên, số lượng các ban, văn phòng giảm từ 24 xuống còn 17 ban, văn phòng. Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, quy trình, quy chế nội bộ cũng được hoàn thiện để phù hợp với mô hình tổ chức mới. Tập đoàn còn chỉ đạo các đơn vị thành viên xây dựng và hoàn thiện các đề án cơ cấu lại bảo đảm tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động; đồng thời, thực hiện phê duyệt đề án cơ cấu, sắp xếp lại của các đơn vị theo đúng thẩm quyền được giao.
Đến năm 2020, PVN hoàn thành cổ phần hóa 3 đơn vị thành viên theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1182/TTg-ĐMDN, ngày 11-8-2017, “Về việc phê duyệt danh mục doanh nghiệp thuộc tập đoàn thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn giai đoạn 2017 - 2020”(2). Số tiền thặng dư ngay sau khi bán cổ phần được nộp đầy đủ về Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp của Nhà nước. Căn cứ danh mục doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn, giai đoạn 2017 - 2018, PVN hoàn thành thoái vốn tại 2 đơn vị(3), với số tiền thặng dư khoảng 1.000 tỷ đồng; phối hợp với đơn vị tư vấn hoàn thành xây dựng phương án thoái vốn, thuê tổ chức thẩm định giá xác định giá khởi điểm để thoái toàn bộ phần vốn góp của PVN tại 4 đơn vị khác. Đồng thời, chủ động, tích cực trong việc xử lý đối với các doanh nghiệp, dự án bị đình trệ, kinh doanh thua lỗ(4).
Cơ cấu vốn đầu tư của PVN dần được điều chỉnh theo hướng tập trung vào 5 lĩnh vực kinh doanh chính, không mở rộng kinh doanh đa ngành. Xây dựng các chuỗi liên kết chặt chẽ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn, giữa Tập đoàn và các đơn vị thành viên, giữa các đơn vị thành viên với nhau để tập trung nguồn lực, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Xây dựng kế hoạch, thực hiện các giải pháp cơ cấu tài chính, các phương án huy động và sử dụng nguồn vốn trong chiến lược tổng thể cũng như trong từng giai đoạn cụ thể. Thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đầu tư, mua sắm, quản lý tài chính, phân phối thu nhập…
Qua quá trình cơ cấu lại, hiệu quả quản trị của PVN theo mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước được nâng cao và tiếp cận với các thông lệ quản trị hiện đại trên thế giới; huy động được nguồn lực từ một số doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp khu vực tư nhân để phát triển. Với đặc thù của ngành và thế mạnh của một tập đoàn kinh tế lớn, PVN là một trong những đơn vị chủ động trong ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp; xây dựng được Chiến lược chuyển đổi số và triển khai ứng dụng số trong các hoạt động quản lý, quản trị và điều hành sản xuất, kinh doanh; công bố Bộ Quy chế quản trị nội bộ Tập đoàn theo dạng sách điện tử (e-book). Công tác nghiên cứu ứng dụng được triển khai tương đối đều đặn thông qua các ban của Tập đoàn, các đơn vị nghiên cứu khoa học (như Viện Dầu khí Việt Nam) hoặc liên kết với Hội Dầu khí Việt Nam, các cơ sở giáo dục đại học ở trong nước, các đơn vị thành viên… Thời gian qua, PVN vinh dự được nhận 5 Giải thưởng Hồ Chí Minh, 3 Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ; có 18 bằng sáng chế và 14 sản phẩm nghiên cứu được thương mại hóa…
Cùng với quá trình cơ cấu lại, số lượng lao động của PVN cũng giảm dần qua các năm. PVN rất chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên, xây dựng đội ngũ người lao động dầu khí có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, làm chủ được các hoạt động dầu khí ở trong nước và ở nước ngoài. Hiện nay, số cán bộ, nhân viên, người lao động có trình độ học vấn từ đại học trở lên trong toàn Tập đoàn chiếm tỷ lệ gần 60%.
Với những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện cơ cấu lại, giá trị tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của PVN qua các năm có sự gia tăng. Doanh thu và lợi nhuận sau thuế cũng tăng trưởng tốt. Năm 2020, PVN được Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings nâng mức triển vọng xếp hạng từ ổn định lên tích cực; đánh giá xếp hạng tín dụng độc lập (SCP) ở mức BB+ (đứng đầu trong các doanh nghiệp nhà nước được xếp hạng). Hiện nay, PVN giữ vững thị phần của mình tại các lĩnh vực sản xuất chủ lực, cung cấp 75 - 80% nhu cầu dầu thô cho sản xuất, 100% thị phần khí thô và khoảng 70% thị phần khí đốt hóa lỏng toàn quốc; 70 - 75% sản phẩm cho thị trường u-rê trong nước; sản xuất và cung cấp cho lưới điện quốc gia khoảng 10 - 15% tổng sản lượng điện toàn quốc; chiếm 17% thị phần phân phối xăng dầu trong nước, chỉ đứng thứ hai sau Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex)…
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình cơ cấu lại của PVN thời gian qua còn không ít khó khăn. Giai đoạn 2016 - 2020, doanh thu và lợi nhuận sau thuế giảm đáng kể so với giai đoạn trước đó. Mô hình tổ chức quản lý chưa thật tinh gọn; việc quản lý danh mục đầu tư chưa bài bản và chuyên nghiệp, dẫn đến một số dự án chưa hiệu quả. Năng lực quản trị của PVN vẫn chưa theo kịp các doanh nghiệp dầu khí trong khu vực, chậm được đổi mới để ứng phó kịp thời với các biến động của thị trường và những rủi ro. Mức độ hoàn thiện hệ thống quản trị nguồn nhân lực dựa trên mô hình BSC (Balanced Scorecard) - mô hình được nhiều doanh nghiệp dầu khí áp dụng, PVN mới chỉ ở cấp độ 2/5, trong khi các doanh nghiệp dầu khí nước ngoài đạt cấp độ 3 - 4/5. Nguồn nhân lực của PVN nếu so sánh với trình độ nhân lực quốc tế thì còn có khoảng cách nhất định.
Từ phía khách quan, nguyên nhân của điều này bắt nguồn từ biến động của tình hình thế giới, gần đây nhất là cuộc xung đột Nga - U-crai-na, tình hình Biển Đông, giá dầu trên thế giới (giảm sâu suốt từ năm 2016 đến năm 2020) và đại dịch COVID-19 gây ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu và thị trường tiêu thụ các sản phẩm dầu khí. Các nguồn năng lượng sơ cấp đang dần cạn kiệt khiến cho công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí đứng trước nhiều thách thức do chi phí cao và nhiều rủi ro, trong khi chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực hoạt động dầu khí của nước ta có những quy định chưa hấp dẫn so với các nước trong khu vực.
Về mặt thể chế, nhiều quy định mới về công tác sắp xếp, cơ cấu lại, thoái vốn hiện nay theo hướng thắt chặt để kiểm soát tốt hơn quá trình cơ cấu lại, nhưng phần nào làm cho tiến độ thực hiện cơ cấu lại bị chậm, thiếu kịp thời. Đối với PVN, việc cơ cấu lại Tập đoàn được phê duyệt theo Nghị định số 32/2018/NĐ-CP, ngày 8-3-2018, “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp”, theo đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt danh mục vốn đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên của doanh nghiệp nhà nước phải chuyển nhượng trong quyết định phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Thủ tướng Chính phủ(5). Tuy nhiên, cho đến nay, đề án về cơ cấu lại của PVN vẫn chưa được phê duyệt để làm căn cứ, cơ sở cho quá trình tổ chức thực hiện. Trong khi đó, hầu hết các doanh nghiệp cần thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn là các doanh nghiệp lớn hoặc là các doanh nghiệp có tình hình tài chính phức tạp, kinh doanh thua lỗ, cần sớm được xử lý. Một số quy định lại khiến cho việc thực hiện dự án đầu tư trong ngành còn gặp nhiều khó khăn, như phân cấp thẩm quyền phê duyệt còn thấp, bổ sung nguồn lực để doanh nghiệp tái đầu tư sau cơ cấu lại còn hạn chế(6)…
Từ phía chủ quan, có thể thấy, mặc dù cơ cấu lại không chỉ xuất phát từ phía yêu cầu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, mà còn xuất phát từ nhu cầu nội tại của chính PVN và các đơn vị thành viên, tuy nhiên công tác lập kế hoạch cơ cấu lại, cổ phần hóa, thoái vốn thời gian qua còn bị động. Phân bổ chi phí ở một số đơn vị chưa phù hợp hoặc kinh doanh thua lỗ. Cùng với đó, có những đơn vị của PVN thuộc danh mục thoái vốn đang bị các cơ quan bảo vệ pháp luật thanh tra, điều tra vì những vi phạm trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản doanh nghiệp. Một số cán bộ cấp cao của PVN bị điều tra, khởi tố vì những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong giai đoạn 2015 - 2017 khiến cho công tác lãnh đạo, điều hành sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Công tác dự báo, phân tích, đánh giá thị trường để phục vụ cho hoạt động lãnh đạo, quản lý còn bị động, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ…
Những gợi mở cho quá trình cơ cấu lại Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thời gian tới
Hiện nay, xu hướng hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự hội tụ của một loạt công nghệ mới (như trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối, điện toán đám mây, dữ liệu lớn,...) đang tác động nhiều mặt tới đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong quan hệ kinh doanh và thương mại quốc tế, yêu cầu vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường hiện đại, đầy đủ, hội nhập vẫn là yêu cầu cơ bản. Ở nước ta, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, vai trò, tầm quan trọng của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế luôn được Đảng ta khẳng định một cách nhất quán, đồng thời từng bước làm rõ các nội dung và lộ trình thực hiện cơ cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, thực hiện “cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo hướng tập trung vào những lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; lành mạnh hóa tài chính, nâng cao trình độ công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế để nâng cao hiệu quả hoạt động, thực hiện tốt vai trò là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước”(7).
Đối với PVN, là một trong những doanh nghiệp nhà nước hàng đầu Việt Nam, xu hướng hội nhập quốc tế cùng với vị thế, uy tín quốc gia ngày càng nâng lên đã tạo ra nhiều cơ hội để gia nhập thị trường quốc tế một cách mạnh mẽ. Bối cảnh thị trường vốn quốc tế và trong nước ngày càng rộng mở là điều kiện để huy động vốn phục vụ nhu cầu đầu tư phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, tình hình quốc tế, đặc biệt là cuộc xung đột Nga - U-crai-na gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều dự án điện và dầu khí đang triển khai. Giá dầu tăng cao mang lại thuận lợi cho ngành khai thác dầu khí, nhưng lại làm gia tăng chi phí cho hầu hết các ngành sản xuất khác. Sức ép lạm phát, tỷ giá và nguy cơ suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu cũng là những thách thức hết sức hiện hữu. Bên cạnh đó, cùng với những cam kết về ứng phó với biến đổi khí hậu tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 2021 (COP 26), xu thế chuyển dịch năng lượng trên thế giới làm thay đổi xu thế đầu tư vào phát triển các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch… Sự phát triển của khoa học và công nghệ cũng đòi hỏi PVN phải thực thi đồng bộ các giải pháp về số hóa, tiến tới chuyển đổi số thành công và nâng cao hiệu quả quản trị.
Thực tiễn cơ cấu lại của PVN thời gian qua là một biểu hiện sinh động, giúp nhận diện được phần nào những hạn chế, khó khăn, đồng thời chỉ dẫn, gợi mở nhiều giải pháp để việc cơ cấu lại của Tập đoàn thời gian tới đạt hiệu quả, chất lượng hơn. Theo đó, một số giải pháp cụ thể có thể đưa ra là:
Thứ nhất, không ngừng hoàn thiện khung khổ pháp lý theo hướng toàn diện, đồng bộ, thống nhất và tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh để làm cơ sở cho việc cơ cấu lại.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước nói chung, PVN nói riêng(8). Hệ thống pháp luật về kinh doanh và cạnh tranh từng bước được hoàn thiện, là tiền đề để tăng cường quản trị doanh nghiệp nhà nước theo hướng hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đặc biệt, quy định về kiện toàn tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu theo thông lệ quốc tế đã được ban hành. Công tác chỉ đạo, điều hành, xử lý doanh nghiệp nhà nước và các dự án yếu kém dần hướng tới nguyên tắc thị trường.
Đối với ngành dầu khí, ngày 14-11-2022, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh cơ cấu lại ở PVN và các doanh nghiệp nhà nước trong ngành. Tuy nhiên, cần sớm ban hành hệ thống văn bản dưới luật để quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể về từng nội dung của Luật, bảo đảm việc áp dụng Luật một cách thống nhất. Đặc biệt, để làm cơ sở cho việc cơ cấu lại PVN, điều kiện tiên quyết hiện nay là đề án cơ cấu lại phải được sự phê duyệt của các cấp có thẩm quyền. Bản thân PVN cũng cần chủ động, tích cực chuẩn bị đầy đủ các điều kiện bảo đảm để sau khi đề án được phê duyệt, có thể lập tức triển khai thực hiện trong thực tế.






