Trong bối cảnh thế giới đang hướng tới mục tiêu năng lượng sạch và bền vững, giải pháp phát triển điện khí đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đây được xem là một nguồn năng lượng sạch, hiệu quả và bền vững. Sử dụng điện khí giúp cải thiện chất lượng không khí, giảm phát thải CO2 và hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng dầu mỏ.
Nguồn điện chiếm tỷ trọng lớn nhất vào năm 2030
Than đá, dầu mỏ, khí đốt tự nhiên là ba loại nhiên liệu hóa thạch được sử dụng phổ biến để phát triển điện ở nhiều quốc gia. Trong đó, điện khí, hay còn được gọi là điện được sản xuất từ khí tự nhiên, điển hình nhất là LNG (Liquefied Natural Gas), là loại năng lượng được kỳ vọng giúp giảm phát thải carbon, nhờ đó giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực lên môi trường và bầu khí quyển.
Để sớm cụ thể hóa các mục tiêu cam kết đạt Net Zero vào năm 2050, Việt Nam cũng đã xác định phát triển ngành công nghiệp điện khí là một trong những mục tiêu quan trọng.
Xét trong cơ cấu nguồn điện, điện khí lại đang giữ vai trò vô cùng lớn trong bối cảnh thủy điện gần hết dư địa phát triển, điện than sẽ không được phát triển sau năm 2030. Với dải công suất lớn, tính ổn định cao, không chịu tác động bởi các yếu tố thời tiết, điện khí được đánh giá là nguồn điện sẽ gánh vác vai trò “trụ đỡ” đảm bảo sự ổn định, an toàn cho hệ thống điện.
LNG đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và hướng đến một tương lai phát triển bền vữngTheo Quy hoạch Điện VIII, đến năm 2030, công suất điện khí (bao gồm điện khí trong nước và LNG) sẽ đạt 37.330 MW, tương ứng với 24,8% tổng công suất nguồn điện, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn điện. Trong khi nhiệt điện than chiếm 20%, thủy điện chiếm 19,5%, điện gió trên bờ và ngoài khơi chiếm 18,5%.
Với quy hoạch này, Việt Nam đang được kỳ vọng sẽ trở thành nhà nhập khẩu lớn, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường LNG thế giới và đang được nhiều nhà cung cấp LNG quốc tế săn đón.
Bên cạnh đó, điện khí còn giữ vai trò “điều tiết”, bù đắp cho các nguồn năng lượng tái tạo phát triển. Điều này cũng là cơ sở để Việt Nam sớm cụ thể hóa cam kết Net Zero vào năm 2050.
Theo TS. Mai Duy Thiện, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, khác với năng lượng tái tạo, điện khí LNG có ưu điểm linh hoạt, có thể thay đổi khi cần, lượng phát thải carbon thấp hơn một nửa so với nhiệt điện than.
“Đồng thời, điện khí hóa lỏng có khả năng đạt hơn 90% hệ số công suất khi cần thiết, thời gian xây dựng và đưa vào vận hành nhanh, đáp ứng được tình trạng thiếu điện nếu có, không gặp phải tình trạng gián đoạn và phụ thuộc vào thiên nhiên như điện gió hay điện mặt trời”, TS Thiện nhận định.
Bộ Công Thương cũng đã khẳng định phát triển nhiệt điện khí, bao gồm cả tự nhiên và LNG là hướng đi tất yếu và có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm cung cấp điện cho nền kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam, “Bởi nguồn điện LNG có khả năng chạy nền, khởi động nhanh, sẵn sàng bổ sung và cung cấp điện nhanh cho hệ thống khi các nguồn điện năng lượng tái tạo giảm phát, đồng thời ít phát thải CO2”, người đứng đầu ngành Công Thương nhận định.






