Theo số liệu mới được công bố, trong những năm qua, tổng tài sản của PVN không ngừng tăng, chỉ tính riêng từ khi bắt đầu hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế năm 2006, tổng tài sản của Tập đoàn ước gần 147.000 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu hơn 98.000 tỷ đồng.
Tính đến ngày 30/6/2019, tài sản của PVN tăng hơn 7 lần 829.200 tỷ đồng còn vốn chủ cũng tăng 7 lần đạt hơn 466.000 tỷ đồng. Đây là con số chứng minh rõ nhất cho sự phát triển mạnh mẽ của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Bên cạnh đó, PVN là Tập đoàn tiên phong trong hợp tác, hội nhập, góp phần tích cực đưa hình ảnh đất nước Việt Nam tới bạn bè quốc tế.
PVN đã xây dựng được đội ngũ những người làm dầu khí hùng hậu, với số lượng lao động hiện có trên 60 nghìn người (trong đó 5,5 nghìn người có trình độ trên đại học, 30 nghìn người có trình độ đại học và cao đẳng và trên 24,5 nghìn công nhân kỹ thuật) hình thành đội ngũ lao động có trình độ cao, đủ khả năng làm chủ các hoạt động dầu khí ở trong và ngoài nước.
Tập đoàn đã tích cực phát huy và thực hiện hiệu quả vai trò là “đầu tàu” kinh tế của đất nước.

Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
Tập đoàn đã trở thành nòng cốt, là hạt nhân trong việc hình thành các khu công nghiệp lớn tại các tỉnh thành phố như Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai - Hiệp Phước, Cà Mau, Dung Quất - Quảng Ngãi, Vũng Áng - Hà Tĩnh, Nghi Sơn - Thanh Hóa...
Đó là chưa kể đến nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là việc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có vai trò không thể thay thế khi tham gia bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
Bởi nơi nào có hoạt động dầu khí, có giàn khoan dầu khí là ở đó chủ quyền quốc gia được khẳng định.
Về mặt kinh tế thì chỉ tính riêng năm 2018, PVN đã nộp ngân sách Nhà nước chiếm 50% trong tổng số 28 Tập đoàn, Ngân hàng Nhà nước.
Bởi vậy phải khẳng định tính hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nhưng ngược lại cũng không thể phủ nhận những nguy cơ tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là ở khâu thăm dò, khai thác dầu khí.
Kiểm toán Nhà nước vừa công bố kết quả kiểm toán tại các Tập đoàn kinh tế, trong đó đánh giá hoạt động đầu tư ra nước ngoài của PVN không hiệu quả, tiềm ẩn rủi ro mất vốn, thua lỗ cao, phải bán để thu hồi vốn.
Chưa kể, việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài còn vượt hạn mức quy định trong giấy chứng nhận đầu tư.
Điển hình là Dự án Lô 67 chuyển vượt 142 triệu USD; dự án SK 305 chuyển vượt 15 triệu USD…
Những con số mà Kiểm toán Nhà nước đưa ra là chính xác, và đây cũng là những vấn đề mà PVN đã nhiều lần báo cáo với lãnh đạo Chính phủ và Bộ Chính trị.
Vậy nên, khi đọc thông tin từ báo cáo kiểm toán, chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể về những việc đã và đang làm được của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.






