LNG – Quá trình trở thành con “át chủ bài” của xu thế năng lượng mới
Khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) được biết đến từ thế kỷ 19 khi Michael Faraday - nhà hóa học và lý học người Anh thí nghiệm với những loại chất khí khác nhau, bao gồm cả khí tự nhiên.
LNG có thành phần chủ yếu là CH4 – Methane (94,3%), không màu, không mùi, không độc hại, được làm lạnh tại nhiệt độ -162ºC để chuyển sang thể lỏng, do vậy chỉ chiếm 1/600 thể tích so với khí tự nhiên ở điều kiện tiêu chuẩn (15 độ C, 1 atm), thuận tiện cho việc tồn chứa, vận chuyển đến các hộ tiêu thụ xa với sức chứa gấp 2,4 lần khí thiên nhiên nén CNG. Khi cháy, LNG có thể tạo ra ngọn lửa có nhiệt độ rất cao (khoảng 1.880 độ C) và có khả năng cháy hoàn toàn mà không để lại cặn giúp các loại thiết bị, máy móc an toàn hơn, giảm hao mòn, ít phải bảo trì và tăng tuổi thọ. LNG khi đốt cháy tạo ra ít hơn 40% lượng khí thải CO2 so với than đá và ít hơn 30% so với dầu mỏ, điều này khiến LNG trở thành nhiên liệu sạch nhất so với các loại nhiên liệu truyền thống.
Năm 1873, Karl Von Linde – kỹ sư người Đức đã xây dựng máy nén khí ly tâm đầu tiên ở Munich. Nhà máy LNG đầu tiên được xây dựng ở phía tây Virginia, Mỹ vào năm 1912 và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1917.
Năm 1940, trạm LNG thử nghiệm đầu tiên đã được thành lập ở Cornwell, Mỹ. Sau đó, một cơ sở công nghiệp đã được xây dựng ở Ohio để đáp ứng mức tiêu thụ khí đốt tự nhiên trong giai đoạn đỉnh điểm. Cơ sở có công suất hóa lỏng là 200 m3/ngày và công suất tái tạo khí là 115 m3/giờ để bơm lại khí vào mạng lưới.
Pháp là một trong những quốc gia đầu tiên nhập khẩu LNG. Từ cuối những năm 1950, Gaz de France - công ty điện lực đa quốc gia của Pháp đã bắt tay vào thiết lập những đường dây vận chuyển bằng đường biển. Vào năm 1963, ba đơn vị hóa lỏng đã được đưa vào hoạt động gần Oran, giúp vận chuyển khí đốt đến Anh và Pháp (kho cảng Fos-sur-Mer).
Trong những năm gần đây, những cải tiến trong kỹ thuật hóa lỏng và kỹ thuật đóng tàu tiên tiến hơn đã thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực khí tự nhiên hóa lỏng. Hoạt động vận chuyển khí trên một quãng đường dài đã trở nên khả thi và mang lại hiệu quả kinh tế.
Các quốc gia trên thế giới đều đang hướng tới sử dụng LNG như một nguồn năng lượng thay thế quan trọng.Mỹ chính là một minh chứng điển hình của việc sử dụng khí đốt cho sản xuất điện. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA): Vào năm 2022, sản lượng điện ở Mỹ đến từ những nhà máy điện khí đốt đạt 40%, than đá là 20%; phần còn lại đến từ năng lượng tái tạo (21,5%) và hạt nhân (18%).
Nhiều quốc gia khác cũng đã tăng tốc chuyển đổi sang khí đốt như: Trung Quốc với khí đốt chiếm 10% trong tổng mức tiêu thụ năng lượng, Nhật Bản với 21,3% và Hàn Quốc với 18% tổng mức tiêu thụ năng lượng.
Với nhu cầu LNG tăng trưởng mạnh mẽ, Wood Mackenzie dự đoán rằng sẽ cần thêm 100 triệu tấn công suất LNG nữa để đáp ứng nhu cầu vào giữa những năm 2030, tăng 25% so với nguồn cung hiện tại và bổ sung cho các dự án hiện đang được xây dựng. Phần lớn nhu cầu này sẽ diễn ra ở châu Á, trong đó Việt Nam cũng là một cái tên “sáng giá”.


Việt Nam từng bước hội nhập cùng xu thế năng lượng thế giới với chuyến tàu LNG đầu tiên cập bến Thị Vải 


