Phát biểu khai mạc hội thảo, Tổng biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo PGS.TS Lê Xuân Đình cho hay, qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến nay ngành công nghiệp khí Việt Nam đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành Dầu khí nói riêng.
Tổng biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo Lê Xuân Đình phát biểu tại hội thảo
Tuy nhiên trong năm nay, các doanh nghiệp kinh doanh khí hóa lỏng đang cạnh tranh quyết liệt nhằm giành thị trường bằng nhiều thủ đoạn khác nhau rất khó kiểm soát, dẫn đến có những thời điểm thị trường không ổn định, hiệu ứng dư luận không tốt, cơ quan quản lý nhà nước bị động trong quản lý.Theo báo cáo mới nhất của Bộ Công Thương về tình hình ngành công nghiệp khai khoáng trong nửa đầu năm 2018, khai thác khí đốt thiên nhiên ước đạt 5,3 tỷ m3, tăng 1%; khí hóa lỏng ước đạt 437,6 nghìn tấn, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2017. Điều đó cho thấy bức tranh toàn cảnh về ngành công nghiệp khai khoáng nói chung, ngành công nghiệp khí nói riêng đang ngày càng được phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu, không xảy ra thiếu hụt nguồn cung.
Toàn cảnh hội thảo
Nhằm mang đến diễn đàn trao đổi thẳng thắn, đa chiều về thách thức và triển vọng thị trường gas, làm rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp khí đối với phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Hội thảo “Thách thức và Triển vọng thị trường gas” là nơi các chuyên gia về kinh tế chia sẻ về những khó khăn, thách thức của thị trường gas, đồng thời là cầu nối giúp các doanh nghiệp chia sẻ những rào cản vướng mắc trong sản xuất kinh doanh.
Phó Trưởng phòng Phân phối hàng hóa và Dịch vụ thương mại, Vụ Thị trườngtrong nước (Bộ Công Thương) Đỗ Trọng Hiếu phát biểu tại hội thảo
Tại hội thảo, Phó Trưởng phòng Phân phối hàng hóa và Dịch vụ thương mại, Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) Đỗ Trọng Hiếu cho biết về thực trạng thị trường kinh doanh LNG tại Việt Nam đó là: Tốc độ tăng trưởng cao, trong 5 năm gần đây tăng trên 12%; Cơ cấu tiêu thụ LPG tại Việt Nam: Cơ sở công nghiệp và giao thông vận tải tiêu thụ khoảng 35%, cơ sở thương mại, dịch vụ và hộ tiêu thụ dân dụng tiêu thụ khoảng 65%.
Về sản xuất LPG trong nước: Cung cấp từ Nhà máy GPP Dinh Cố và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất với sản lượng khoảng 750.000 tấn/năm, chiếm khoảng 45% nhu cầu LPG của Việt Nam. Về nguồn LPG nhập khẩu: Nhập khẩu từ thị trường các nước như Trung Quốc, Quata, Arập Xêút và Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất, chiếm khoảng 55% nhu cầu LPG của Việt Nam.
Về hệ thống cơ sở vật chất kinh doanh LPG: Với 1 hệ thống kho LPG lạnh thuộc PVGAS, dung tích chứa 60.000 tấn tại Vũng Tàu; trên 50 kho chứa LPG có tổng dung tích khoảng trên 220 nghìn m3 (khoảng 110 nghìn tấn) của các công ty kinh doanh LPG với công suất trung bình kho chứa từ khoảng 1.000 - 4.000 tấn; sức chứa phân theo vùng miền: Miền Bắc chiếm 13,8%, miền Trung chiếm 6,8% và miền Nam chiếm 79,4%. Với hơn 35 cầu cảng được sử dụng để nhập LPG, chủ yếu là cầu cảng nhỏ.
Về hệ thống trạm nạp LPG vào chai ở Việt Nam với gần 200 trạm nạp LPG đủ điều kiện nạp LPG được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện; 72 trạm chiết nạp hoạt động độc lập được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện.
Cũng tại hội thảo, Phụ trách Ban Thị trường PVGAS Nguyễn Quyết Thắng chia sẻ về tổng quan thị trường LNG thế giới; tính cấp thiết, các cơ chế pháp lý cho việc phát triển cơ sở hạ tầng nhập khẩu LNG của Việt Nam và các giải pháp phát triển hạ tầng để nhập khẩu LNG cho sản xuất điện ở Việt Nam.






